Ngày 16/9/2026, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức họp Hội đồng thẩm định chuyên môn nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”.
Hội nghị tập trung đánh giá nguồn nước theo ba trạng thái ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt; rà soát các nhóm chỉ tiêu, ngưỡng nhận diện, yêu cầu dữ liệu và phương pháp tổng hợp; đồng thời xem xét kết quả áp dụng thử nghiệm tại một số lưu vực sông để đánh giá tính phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý tài nguyên nước của Việt Nam.
Đến tham dự hội nghị có đại diện các đơn vị trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường bao gồm: Cục Môi trường; Cục Quản lý tài nguyên nước; Viện Khoa học tài nguyên nước; Viện Quy hoạch Thủy lợi; Viện Thuỷ văn, môi trường và Biến đổi khí hậu - Trường Đại học Thuỷ lợi; Trường Đại học Khoa học tự nhiên- Đại học quốc gia Hà Nội; Các chuyên gia về tài nguyên nước, môi trường và các đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia.

Hội nghị tập trung vào các nội dung chuyên môn trọng tâm gồm: Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”; Danh mục nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; Quyết định Phê duyệt Danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc;

KẾT QUẢ TỔNG HỢP VÀ NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ PHÊ DUYỆT
1. Phạm vi, đối tượng
a) Phạm vi thực hiện: Phạm vi thực hiện bao gồm toàn bộ diện tích các lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia trên toàn quốc.
b) Đối tượng thực hiện:
Đối tượng thực hiện là các sông liên tỉnh, liên quốc gia và nguồn nước nội tỉnh đang bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng có tác động trực tiếp đến nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia.
2. Kết quả tổng hợp Danh mục
Kết quả tổng hợp đề xuất ban hành Danh mục gồm 49 nguồn nước mặt liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, trong đó: 46 nguồn nước mặt liên tỉnh là sông, suối, kênh, rạch và 03 nguồn nước mặt liên tỉnh là hồ. Thông tin chi tiết về nguồn nước, vị trí ô nhiễm, đoạn sông bị suy thoái, cạn kiệt và phạm vi hành chính được thể hiện tại các Phụ lục kèm theo dự thảo Quyết định.
Các trường hợp chưa đủ cơ sở để xác định mức độ ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt không đưa vào Danh mục ban hành tại thời điểm này và tiếp tục được theo dõi, bổ sung số liệu để rà soát, cập nhật khi có đủ căn cứ.
a) Kết quả phân loại về ô nhiễm: Tập trung tại 03 lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai và Cửu Long với tổng số 197 vị trí ô nhiễm thuộc 45 nguồn nước sông; ngoài ra có 03 hồ liên tỉnh bị ô nhiễm, cụ thể: - Lưu vực sông Hồng - Thái Bình ghi nhận 38 vị trí ô nhiễm thuộc 08 nguồn nước sông; - Lưu vực sông Đồng Nai có 143 vị trí ô nhiễm thuộc 23 nguồn nước sông; đồng thời có 03 hồ liên tỉnh bị ô nhiễm gồm hồ Phước Hòa, hồ Dầu Tiếng và hồ Sông Ray; - Lưu vực sông Cửu Long có 16 vị trí thuộc 14 nguồn nước sông.
Các vị trí ô nhiễm có tính tập trung, chủ yếu gắn với các đoạn sông, kênh, rạch chịu áp lực lớn từ đô thị, khu dân cư, công nghiệp, làng nghề và các nguồn thải tập trung hoặc phân tán.
b) Kết quả phân loại về suy thoái: Hiện các nguồn nước chủ yếu là suy thoái về chất lượng nước và có quan hệ trực tiếp với các khu vực đã xác định bị ô nhiễm, cụ thể: - Lưu vực Hồng - Thái Bình có 16 đoạn sông thuộc 09 nguồn nước bị suy thoái; - Lưu vực sông Đồng Nai có 26 đoạn sông thuộc 22 nguồn nước; - Lưu vực sông Cửu Long có 16 đoạn sông thuộc 14 nguồn nước. - Riêng Nậm Lè thuộc lưu vực Hồng - Thái Bình được xác định suy thoái gắn với sự suy giảm về số lượng nước.
c) Kết quả phân loại về cạn kiệt: Trong phạm vi số liệu và bộ tiêu chí áp dụng, chỉ ghi nhận 01 nguồn nước bị cạn kiệt là Nậm Lè thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, với đoạn cạn kiệt dài khoảng 9 km.
Các nguồn nước còn lại chưa được xác định bị cạn kiệt theo kết quả đánh giá của Nhiệm vụ. Tuy nhiên, tại một số lưu vực vẫn ghi nhận các nguồn nước có xu thế thiếu hụt dòng chảy hoặc chịu tác động của khai thác, điều tiết trong mùa kiệt, cần tiếp tục theo dõi để kịp thời phát hiện sự thay đổi trạng thái.
d) Tổng hợp theo lưu vực cho thấy 13/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước bị ô nhiễm; 13/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước bị suy thoái và 15/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước bị cạn kiệt.
Kết quả này không đồng nghĩa với việc tất cả các nguồn nước tại các lưu vực nêu trên hoàn toàn không có vấn 6 đề về chất lượng hoặc số lượng nước, bởi vẫn tồn tại các vị trí có nguy cơ ô nhiễm, nguồn nước có nguy cơ suy giảm hoặc chưa có đủ số liệu để kết luận theo bộ tiêu chí của Nhiệm vụ.
đ) Trên cơ sở kết quả phân loại, các nguồn nước cần phục hồi trực tiếp tập trung trước hết tại lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai và Cửu Long. Trong đó, Nậm Lè cần được ưu tiên về phục hồi số lượng nước; các hệ thống sông Nhuệ, Đáy, Hồng, Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê và các nguồn nước có nhiều vị trí ô nhiễm, đoạn suy thoái tại lưu vực Đồng Nai và Cửu Long cần ưu tiên kiểm soát nguồn gây tác động và phục hồi chất lượng nước. Các nguồn nước mới ở mức nguy cơ hoặc chưa đủ dữ liệu chưa được xác định là đối tượng phải phục hồi tại thời điểm hiện nay mà cần được tiếp tục quan trắc, kiểm soát và hoàn thiện cơ sở dữ liệu.
e) Kết quả của Nhiệm vụ đã hình thành cơ sở dữ liệu, kết quả phân loại, Danh mục và bộ bản đồ các nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tỷ lệ 1:100.000, làm cơ sở phục vụ quản lý nhà nước, xác định nguồn nước ưu tiên và xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước trong giai đoạn tiếp theo.
Ý kiến chuyên gia tập trung vào tính đại diện của danh mục và đặc thù từng lưu vực sông


Tại phiên thảo luận, bà Trần Thị Lệ Anh, đại diện Cục Môi trường, đề nghị việc lựa chọn thông số và ngưỡng đánh giá phải bám sát đối tượng, chức năng nguồn nước và các bảng tương ứng của QCVN 08:2023/BTNMT. Với các thủy vực có đặc trưng riêng như hồ chứa, cần cân nhắc thêm các thông số phản ánh phú dưỡng và Chlorophyll-a. Bà cũng lưu ý chuỗi số liệu 05 năm chỉ có ý nghĩa khi tần suất quan trắc đủ đại diện; trường hợp đánh giá, phân loại chất lượng nước theo quy chuẩn cần xem xét tần suất tối thiểu 10 lần/năm và đánh giá theo từng thông số. Đồng thời, cần nghiên cứu kỹ hơn việc sử dụng mức D của QCVN 08:2023/BTNMT làm ngưỡng nhận diện ô nhiễm. Và đề nghị cân nhắc đặt tiêu chí suy thoái trước tiêu chí ô nhiễm do sự suy giảm số lượng nước thường kéo theo suy giảm chất lượng nước trong mùa cạn.
GS.TS Ngô Lê Long, Trường Đại học Thủy lợi, đề nghị rà soát lại hệ thống thuật ngữ, định nghĩa và cách giải thích các thông số như Hmin, Qmin, Qeco; bổ sung nội dung suy giảm chức năng và khả năng phục hồi vào nhóm tiêu chí suy thoái. Đối với chỉ tiêu lưu lượng mùa cạn, ông cho rằng cần so sánh số liệu mùa cạn với trung bình mùa cạn nhiều năm thay vì trung bình năm. Việc đánh giá cũng cần thực hiện ở quy mô từng đoạn sông để tránh làm mất bản chất không gian của ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đồng thời không nên áp dụng một ngưỡng mực nước cho mọi lưu vực do sự khác biệt lớn giữa miền núi và đồng bằng.
Một số ý kiến khác tại Hội thảo cũng đề nghị làm rõ cơ sở của phương pháp tổng hợp điểm từ 0 - 100, cách xác định trọng số, các thành phần của chỉ số ưu tiên phục hồi PI và tính nhất quán giữa các ngưỡng nhận diện với kết quả mô hình, đặc biệt đối với các giá trị Q85%, Q95% và lưu lượng mùa kiệt. Đây là những nội dung cần tiếp tục kiểm chứng bằng số liệu thực tế trước khi áp dụng rộng rãi.
Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
Ông Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia yêu cầu trên cơ sở kết quả Nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc” đã được triển khai trên 16 lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia. Trên cơ sở rà soát đối tượng được phê duyệt và cập nhật theo Danh mục nguồn nước mặt liên quốc gia, liên tỉnh hiện hành, Nhiệm vụ đã xem xét, đánh giá 719 nguồn nước, gồm 682 sông, suối, kênh, rạch và 37 hồ. Nguồn tài liệu sử dụng được tổng hợp từ kết quả điều tra cơ bản, quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước và môi trường; quy hoạch tài nguyên nước và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông; hiện trạng khai thác, sử dụng nước, nguồn thải; kết quả điều tra, khảo sát bổ sung và các nhiệm vụ, dự án có liên quan.
- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, chế độ dòng chảy, vị trí phân lưu - nhập lưu, hiện trạng khai thác, sử dụng nước, công trình điều tiết và các yếu tố tác động, Nhiệm vụ đã thực hiện phân đoạn nguồn nước phục vụ đánh giá. Việc phân đoạn tạo cơ sở xác định cụ thể phạm vi chịu tác động, hạn chế việc đánh giá chung cho toàn bộ chiều dài nguồn nước trong khi đặc điểm thủy văn, chất lượng nước và áp lực khai thác, xả thải có sự khác biệt theo không gian.
- Nhiệm vụ đã xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá theo hướng kết hợp giữa chất lượng và số lượng nước. Đối với ô nhiễm, kết quả quan trắc được đánh giá trên cơ sở QCVN 08:2023/BTNMT và chỉ số CCME WQI, xem xét đồng thời phạm vi thông số không đạt, tần suất không đạt và mức độ vượt ngưỡng. Đối với cạn kiệt, việc đánh giá sử dụng các đặc trưng dòng chảy mùa kiệt, đường cong duy trì lưu lượng, Q85%, dòng chảy tối thiểu và chỉ số thiếu hụt dòng chảy. Suy thoái nguồn nước được xác định trên cơ sở tổng hợp sự suy giảm về chất lượng và/hoặc số lượng nước, có đối chiếu với hiện trạng khai thác, sử dụng nước, điều tiết công trình và kết quả điều tra thực địa. - Kết quả phân loại cho thấy tình trạng ô nhiễm nguồn nước đủ điều kiện đưa vào Danh mục tập trung tại 03 lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai và Cửu Long. Đối với nguồn nước sông, lưu vực Hồng - Thái Bình ghi nhận 38 vị trí ô nhiễm thuộc 08 nguồn nước; lưu vực Đồng Nai có 143 vị trí thuộc 23 nguồn nước; lưu vực Cửu Long có 16 vị trí thuộc 14 nguồn nước. Ngoài ra, 03 hồ liên tỉnh bị ô nhiễm đều thuộc lưu vực Đồng Nai, gồm Phước Hòa, Dầu Tiếng và Hồ Sông Ray. - Về suy thoái, kết quả cho thấy suy thoái nguồn nước hiện chủ yếu là suy thoái về chất lượng nước và có quan hệ trực tiếp với các khu vực đã xác định bị ô nhiễm. Lưu vực Hồng - Thái Bình có 16 đoạn thuộc 09 nguồn nước bị suy thoái; lưu vực Đồng Nai có 26 đoạn thuộc 22 nguồn nước; lưu vực Cửu Long có 16 đoạn thuộc 14 nguồn nước. Riêng Nậm Lè thuộc lưu vực Hồng - Thái Bình được xác định suy thoái gắn với sự suy giảm về số lượng nước. 358 - Về cạn kiệt, trong phạm vi số liệu và bộ tiêu chí áp dụng, chỉ ghi nhận 01 nguồn nước bị cạn kiệt là Nậm Lè thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, với đoạn cạn kiệt dài khoảng 9 km. Các nguồn nước còn lại chưa được xác định bị cạn kiệt theo kết quả đánh giá của Nhiệm vụ. Tuy nhiên, tại một số lưu vực vẫn ghi nhận các nguồn nước có xu thế thiếu hụt dòng chảy hoặc chịu tác động của khai thác, điều tiết trong mùa kiệt, cần tiếp tục theo dõi để kịp thời phát hiện sự thay đổi trạng thái.
- Tổng hợp theo lưu vực cho thấy 13/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước thuộc Danh mục bị ô nhiễm; 13/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước bị suy thoái và 15/16 lưu vực chưa ghi nhận nguồn nước bị cạn kiệt. Ngoài ra, tại một số vị trí các nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm, nguồn nước có xu thế suy giảm hoặc chưa có đủ số liệu để đánh giá.
- Trên cơ sở kết quả phân loại, các nguồn nước cần phục hồi trực tiếp tập trung trước hết tại lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai và Cửu Long. Trong đó, Nậm Lè cần được ưu tiên về phục hồi số lượng nước; các hệ thống sông Nhuệ, Đáy, Hồng, Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê và các nguồn nước có nhiều vị trí ô nhiễm, đoạn suy thoái tại lưu vực Đồng Nai và Cửu Long cần ưu tiên kiểm soát nguồn gây tác động và phục hồi chất lượng nước. Các nguồn nước mới ở mức nguy cơ hoặc chưa đủ dữ liệu chưa được xác định là đối tượng phải phục hồi tại thời điểm hiện nay mà cần được tiếp tục quan trắc, kiểm soát và hoàn thiện cơ sở dữ liệu.
- Kết quả của Nhiệm vụ đã hình thành cơ sở dữ liệu, kết quả phân loại, Danh mục và bộ bản đồ các nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tỷ lệ 1:100.000, làm cơ sở phục vụ quản lý nhà nước, xác định nguồn nước ưu tiên và xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước trong giai đoạn tiếp theo.
2. Kiến nghị: Trên cơ sở kết quả thực hiện Nhiệm vụ, đề nghị trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành Danh mục các nguồn nước mặt liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt. Danh mục sau khi ban hành cần được sử dụng thống nhất làm căn cứ xác định đối tượng và thứ tự ưu tiên khi xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước.
Trên cơ sở Danh mục được phê duyệt, kiến nghị triển khai Chương trình phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm tại các lưu vực sông lớn, quan trọng quốc gia, trong đó ưu tiên tổ chức lập và triển khai 10 dự án ưu tiên, gồm 02 dự án điều tra, đánh giá bổ sung và 08 dự án phục hồi nguồn nước giai đoạn 2027-2030 đã đề xuất. Đối với các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ – Đáy và Ngũ Huyện Khê, tiếp tục thực hiện theo Kế hoạch phục hồi đã được giao, bảo đảm phối hợp và không hình thành dự án trùng lặp.
Đối với các nguồn nước bị ô nhiễm và suy thoái về chất lượng, cần tiếp tục rà soát, kiểm kê và lượng hóa các nguồn thải theo từng đoạn sông; tăng cường thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, đô thị, công nghiệp, làng nghề và kiểm soát các nguồn thải phân tán từ nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Các giải pháp kiểm soát 359 nguồn thải cần được kết hợp với duy trì, cải thiện điều kiện dòng chảy, khả năng trao đổi nước và chức năng tự làm sạch của nguồn nước.
Đối với Nậm Lè, cần tổ chức điều tra, đánh giá chi tiết hơn về chế độ dòng chảy mùa kiệt, hiện trạng khai thác, sử dụng nước và tác động của các công trình điều tiết; trên cơ sở đó xây dựng giải pháp duy trì dòng chảy, giảm mức độ và thời gian thiếu hụt nước, đồng thời bảo đảm nhu cầu sử dụng nước thiết yếu và chức năng sinh thái của nguồn nước.
Ưu tiên bổ sung số liệu cho các nguồn nước chưa có dữ liệu đánh giá tại 14 lưu vực: Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Hương, Trà Khúc, Ba, Kôn – Hà Thanh, Sê San, Srêpốk, Cửu Long, ven biển Quảng Ninh, ven biển Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ; đồng thời cho 05 hồ liên tỉnh tại Hồng - Thái Bình và Đồng Nai. Nội dung bổ sung tập trung vào các yếu tố còn thiếu về chất lượng nước, số lượng nước, nguồn thải, khai thác sử dụng nước và điều kiện thực địa, bảo đảm đủ cơ sở áp dụng thống nhất bộ tiêu chí trong kỳ rà soát tiếp theo.
Tiếp tục duy trì và hoàn thiện mạng quan trắc chất lượng, số lượng nước tại các nguồn nước thuộc Danh mục và các nguồn có nguy cơ; ưu tiên bố trí vị trí quan trắc tại đầu, giữa và cuối đoạn suy giảm, trước và sau các cụm nguồn thải lớn, đồng thời tăng tần suất quan trắc trong mùa kiệt hoặc thời kỳ nhạy cảm. Kết quả quan trắc cần được tích hợp với thông tin khai thác, sử dụng nước, xả thải và vận hành công trình để theo dõi đầy đủ diễn biến trạng thái nguồn nước.
Cần thiết lập cơ chế chia sẻ, cập nhật dữ liệu thường xuyên giữa cơ quan quản lý tài nguyên nước, cơ quan môi trường, các đơn vị quan trắc và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có liên quan; thống nhất mã nguồn nước, vị trí, đoạn sông và cấu trúc dữ liệu nhằm bảo đảm việc rà soát, đối chiếu và cập nhật Danh mục được thực hiện đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.
Danh mục cần được theo dõi, rà soát và cập nhật định kỳ, đồng thời xem xét cập nhật khi xuất hiện sự cố ô nhiễm, hạn hán nghiêm trọng, thay đổi lớn về khai thác, sử dụng nước hoặc vận hành công trình, hoặc khi chuỗi số liệu quan trắc cho thấy trạng thái nguồn nước có thay đổi rõ rệt. Việc đưa nguồn nước ra khỏi Danh mục chỉ nên xem xét khi kết quả quan trắc, đánh giá cho thấy tình trạng nguồn nước đã được cải thiện ổn định và không còn đáp ứng tiêu chí xác định ô nhiễm, suy thoái hoặc cạn kiệt.
Dưới đây là một số hình ảnh tại buổi hội thảo:
